Raffaello

1483-1520

Raphael mồ côi năm mười một tuổi và qua đời ở tuổi ba mươi bảy, vậy mà giữa hai mốc ấy ông đã vẽ Trường học Athens và cùng Leonardo, Michelangelo trở thành bộ ba bậc thầy lớn của Phục hưng đỉnh cao. Người ta yêu tranh ông vì sự trong sáng, duyên dáng và tĩnh tại.

Xuất thân

Raphael sinh năm 1483 tại Urbino, một thành phố nhỏ nhưng rất giàu văn hóa; các nguồn ghi ngày sinh của ông là 28 tháng 3 hoặc 6 tháng 4. Cha ông, Giovanni Santi, là họa sĩ cung đình của Công tước Urbino, đồng thời là nhà thơ từng viết một biên niên bằng thơ về cuộc đời Công tước Federico. Lớn lên quanh triều đình ấy giúp Raphael có phong thái lịch thiệp và khéo giao tiếp mà Vasari nhấn mạnh. Mẹ ông, Màgia, mất năm 1491 khi ông tám tuổi, và cha ông mất ngày 1 tháng 8 năm 1494, nên ông mồ côi lúc mười một tuổi. Theo Vasari, ông đã là trợ thủ đắc lực của cha, và một bức chân dung tự họa thời niên thiếu cho thấy tài năng sớm nở. Dường như ông đã góp tay điều hành xưởng vẽ của gia đình từ rất sớm.

Cuộc đời và những bước ngoặt

Vasari kể rằng cha ông gửi ông tới xưởng Pietro Perugino "bất chấp nước mắt của người mẹ", nhưng lời kể này bị nghi ngờ, và có giả thuyết khác cho rằng ông học một phần với Timoteo Viti. Đa số sử gia đồng ý rằng ông làm phụ tá cho Perugino từ khoảng năm 1500, và tháng 12 năm 1500 ông đã được gọi là thầy. Tác phẩm đầu tiên có ghi chép là Bàn thờ Baronci, đặt hàng năm 1500. Từ khoảng năm 1504, ông ở Florence nhiều, dù có lẽ chưa bao giờ cư trú liên tục. Năm 1508, ông tới Rome theo lời mời của Giáo hoàng Julius II và ở lại đến cuối đời, phục vụ hai vị giáo hoàng Julius và Leo X, vẽ các phòng ở Vatican và làm kiến trúc sư. Ông mất ngày 6 tháng 4 năm 1520, khi tài năng vẫn đang ở đỉnh cao.

Phong cách và kỹ thuật

Tranh Raphael được ngưỡng mộ vì hình khối trong sáng, bố cục nhẹ nhàng và cách thể hiện lý tưởng Tân Platon về sự cao cả của con người. Vasari chia sự nghiệp ông làm ba giai đoạn: những năm đầu ở Umbria, khoảng bốn năm thấm nhuần nghệ thuật Florence, và mười hai năm sôi nổi, rực rỡ ở Rome. Thuở đầu, ông hấp thụ Perugino trọn vẹn đến mức Wölfflin viết rằng chưa học trò thiên tài nào tiếp nhận nhiều từ thầy như thế. Ở Florence, ảnh hưởng mạnh nhất là Leonardo: hình người của ông chuyển động hơn, ông dùng bố cục kim tự tháp và phát triển lối sfumato của riêng mình, mà vẫn giữ thứ ánh sáng dịu, trong của Perugino. Ở Rome, ông điều hành một xưởng vẽ lớn khác thường, và nhiều tác phẩm về sau do phụ tá thực hiện theo bản vẽ của ông.

Giai thoại

Một lá thư giới thiệu tháng 10 năm 1504 của mẹ vị Công tước Urbino kế nhiệm tả ông là một chàng trai hiểu chuyện, lễ độ, người mà bà quý mến vì tình cảm với cha ông. Năm 1502, Pinturicchio, cũng là học trò Perugino, mời ông tới Siena giúp vẽ phác thảo cho loạt bích họa ở Thư viện Piccolomini, vì biết ông là người vẽ bậc nhất. Michelangelo, chỉ hơn ông tám tuổi, về sau còn ghét ông hơn cả ghét Leonardo, đổ cho ông những âm mưu chống lại mình. Ở Rome, Julius II lập tức giao Raphael vẽ căn phòng định làm thư viện riêng của giáo hoàng, trong khi tranh của các họa sĩ khác bị vẽ đè lên. Raphael trở thành bạn thân của Baldassare Castiglione, tác giả cuốn Người cận thần.

Di sản

Phòng Segnatura, với Trường học Athens, Parnassus và Cuộc tranh luận về Thánh Thể, đã tạo nên chấn động trong nghệ thuật Rome và đến nay vẫn thường được coi là kiệt tác lớn nhất của ông. Khi còn sống, Raphael có ảnh hưởng rất lớn, dù ngoài Rome người ta chủ yếu biết tranh ông qua bản in. Sau khi ông mất, ảnh hưởng của Michelangelo lấn át ông cho tới thế kỷ 18 và 19, khi vẻ thanh thản, hài hòa của Raphael lại được tôn làm chuẩn mực cao nhất. Qua Johann Joachim Winckelmann, ông định hình hội họa Tân cổ điển, và về sau Hội Tiền Raphael công khai chối bỏ phương pháp của ông, điều cho thấy ông vẫn ở trung tâm đến thế nào. Với nhiều người, những bức Đức Mẹ của ông vẫn là hình ảnh của chính sự duyên dáng.

Có thể bạn chưa biết

Wikipedia

Thượng Phục Hưng

Họa sĩ liên quan

Tiziano Vecelli · Leonardo da Vinci · Michelangelo · Albrecht Dürer · Sandro Botticelli · Hieronymus Bosch

Tranh của Raffaello