Pieter Bruegel the Elder

1525-1569

Pieter Bruegel Cha đã biến những làng quê, yến tiệc, trò chơi và mùa đông giá buốt của xứ Flanders thế kỷ mười sáu thành những bức tranh lớn, một người thị dân uyên bác mà những người nông dân và phong cảnh của ông trở thành ô cửa nhìn về một thế giới đã mất.

Xuất thân

Ngày sinh của Bruegel chưa bao giờ được ghi lại. Vì ông gia nhập hội họa sĩ Antwerp năm 1551, điều thường diễn ra ở độ tuổi hai mươi đến hai mươi lăm, người ta cho rằng ông sinh khoảng 1525 đến 1530. Lodovico Guicciardini viết rằng ông sinh ở Breda; Karel van Mander lại nói ông sinh ở một ngôi làng gần Breda tên Brueghel, một địa danh không ai xác định được. Về gia đình ông, không ai biết gì. Van Mander hình dung ông là con nhà nông, nhưng giới nghiên cứu hiện đại thấy ở ông một thị dân có học vấn cao, thân thiết với giới nhân văn đương thời, dù dường như ông không thạo tiếng Latin. Từ 1545 đến 1550, ông học việc với họa sĩ Antwerp Pieter Coecke van Aelst, người mất vào tháng 12 năm 1550. Khi ấy Bruegel đã làm việc ở Mechelen, phụ Peeter Baltens vẽ một bức tranh thờ nay đã thất lạc, phần cánh được vẽ bằng lối đơn sắc xám grisaille, công việc có lẽ có được nhờ vợ Coecke, Mayken Verhulst, mà cả gia đình đều là nghệ sĩ.

Cuộc đời và những bước ngoặt

Năm 1551, Bruegel trở thành thợ cả tự do của Hội Thánh Luca ở Antwerp và sớm lên đường sang Ý. Ông đến Rome và, táo bạo so với thời ấy, tới tận Reggio Calabria vào năm 1552, vẽ lại thành phố bốc cháy sau một cuộc tấn công của người Thổ. Năm 1553 ông trở lại Rome và kết thân với họa sĩ tiểu họa Giulio Clovio. Ông về đến Antwerp năm 1555 và sống ở đó đến 1563, thiết kế hơn bốn mươi bản in cho Hieronymus Cock, nhà xuất bản tranh in hàng đầu Bắc Âu. Những bức tranh có ghi năm của ông bắt đầu từ 1557, và cuối thập niên ấy hội họa trở thành phương tiện chính. Năm 1563, ông cưới Mayken Coecke, con gái thầy cũ, tại Brussels, nơi ông sống nốt quãng đời ngắn ngủi. Khách hàng gồm những nhà sưu tập Flanders giàu có và Hồng y Granvelle. Ông có hai con trai về sau thành họa sĩ nổi tiếng, Pieter Brueghel Con và Jan Brueghel Cha, cùng một con gái. Ông mất ở Brussels ngày 9 tháng 9 năm 1569 và được an táng tại nhà thờ Kapellekerk.

Phong cách và kỹ thuật

Bruegel không vẽ chân dung, và là người tiên phong đưa phong cảnh cùng đời sống nông dân lên những bức tranh khổ lớn. Các cảnh thời kỳ đầu như Tục ngữ Hà Lan hay Trò chơi trẻ em rải hàng chục hình người nhỏ khắp mặt tranh từ một điểm nhìn cao, mỗi người, mỗi nhóm mải mê việc riêng. Sang thập niên 1560, ông chuyển dần sang lối vẽ ít nhân vật hơn nhưng lớn hơn, đặt trước nền phong cảnh. Ông tiếp nhận lối phong cảnh toàn cảnh thế giới, với núi non, đồng bằng, sông nước tưởng tượng nhìn từ trên cao, và khiến nó tự nhiên hơn. Trong Phong cảnh với cú rơi của Icarus, nhân vật lớn nhất lại là một người cày ruộng có lẽ chẳng hề hay biết thần thoại đang diễn ra. Đỉnh cao là loạt tranh các mùa, còn lại năm bức, trong đó có Những người thợ săn trên tuyết năm 1565: cảnh sinh hoạt ở tiền cảnh và một khung cảnh bao la nhìn qua hàng cây. Cái nhìn của ông mộc mạc, không ủy mị mà đầy chất hài hước, và trong Người mù dắt người mù, ông khắc họa người khuyết tật chính xác đến kinh ngạc.

Giai thoại

Từ năm 1559, Bruegel bỏ chữ h khỏi tên mình và đổi chữ ký từ kiểu chữ Gothic sang chữ hoa La Mã, có lẽ để Latin hóa cái tên, trong khi họ hàng vẫn viết Brueghel hay Breughel. Van Mander kể rằng mẹ vợ ông thúc đẩy việc chuyển đến Brussels để tách ông khỏi một cô hầu gái từng có quan hệ với ông. Van Mander cũng ghi lại rằng trước khi mất, Bruegel dặn vợ đốt một số bức vẽ có lời đề quá sắc sảo hay châm biếm, vì hối hận hoặc vì sợ bà gặp nạn, điều làm dấy lên nhiều suy đoán rằng chúng mang nội dung khiêu khích về chính trị hay tôn giáo trong thời buổi căng thẳng của Cải cách và Tòa án dị giáo. Ở Ý, khác hẳn phần lớn họa sĩ đến thăm, ông dường như bỏ qua các phế tích cổ đại, chỉ vẽ phong cảnh. Và một loạt tranh vẽ núi nổi tiếng từng được gán cho chuyến đi ấy, đến thập niên 1980 mới được chứng minh không phải của ông.

Di sản

Bruegel có ảnh hưởng nền tảng đến hội họa Thời kỳ Hoàng kim Hà Lan và hội họa nói chung, thuộc thế hệ đầu tiên mà với họ đề tài tôn giáo không còn là chất liệu đương nhiên của nghệ thuật. Một số tác phẩm như Cuộc chiến giữa Lễ hội Carnival và Mùa Chay nằm trong những hình ảnh phản kháng xã hội sớm nhất của lịch sử nghệ thuật. Những cảnh cày cấy, săn bắn, ăn uống, lễ hội, nhảy múa và trò chơi của ông là tư liệu độc nhất về một nền văn hóa dân gian đã mất, và các bức tranh mùa đông năm 1565 còn được dẫn làm bằng chứng cho những mùa đông khắc nghiệt thời Tiểu Băng hà. Nghệ thuật của ông sống tiếp qua hai con trai họa sĩ, và trong thế kỷ hai mươi, hai mươi mốt, những bức như Phong cảnh với cú rơi của Icarus và Những người thợ săn trên tuyết đã truyền cảm hứng cho cả nhà văn lẫn nhà làm phim. Nhiều câu trong Tục ngữ Hà Lan vẫn được nói đến ngày nay bằng tiếng Flemish, Hà Lan, Pháp và Anh, nên những thế giới nhỏ đông đúc của ông vẫn nói ngôn ngữ của chúng ta.

Có thể bạn chưa biết

Wikipedia · Wikidata

Phục Hưng phương Bắc · hội họa Hà Lan thời kỳ đầu

Họa sĩ liên quan

Hieronymus Bosch

Tranh của Pieter Bruegel the Elder