Gustave Courbet

1819-1877

Gustave Courbet, người con kiêu hãnh của Ornans, vẽ những người đập đá và đám tang làng quê trên những khổ tranh vốn chỉ dành cho vua chúa và thánh thần. Là thủ lĩnh của chủ nghĩa Hiện thực, ông chỉ muốn vẽ những gì mắt mình nhìn thấy, và muốn không chỉ là một họa sĩ mà còn là một con người.

Xuất thân

Courbet sinh ngày 10 tháng 6 năm 1819 tại Ornans, vùng Doubs, là con của Régis và Sylvie Oudot Courbet. Tinh thần chống quân chủ thấm đẫm trong nhà; ông ngoại ông từng chiến đấu trong Cách mạng Pháp. Ba chị em gái Zoé, Zélie và Juliette là những người mẫu đầu tiên của ông. Năm 1839 ông lên Paris, học ở xưởng của Steuben và Hesse, nhưng vốn tính độc lập, ông sớm bỏ đi để tự học bằng cách chép tranh các bậc thầy Tây Ban Nha, Flanders và Pháp ở bảo tàng Louvre. Những bức đầu tiên lấy cảm hứng từ văn chương, một bức Odalisque theo Victor Hugo và một bức Lélia theo George Sand, nhưng ông sớm chuyển sang thực tại quan sát được. Đầu thập niên 1840 ông vẽ chính mình hết lần này đến lần khác trong những vai lãng mạn, như Chân dung tự họa với chó đen hay bức Người tuyệt vọng đầy kịch tính. Suốt đời ông về Ornans săn bắn, câu cá và tìm cảm hứng, và tình gắn bó với xứ Franche-Comté trở thành nét riêng của chủ nghĩa Hiện thực nơi ông.

Cuộc đời và những bước ngoặt

Những chuyến đi Hà Lan và Bỉ năm 1846, 1847 thuyết phục ông rằng họa sĩ phải vẽ cuộc sống quanh mình, như Rembrandt và Hals từng làm. Ở Salon năm 1849, bức Sau bữa tối ở Ornans mang về cho ông huy chương vàng, giúp tranh ông không cần qua hội đồng xét duyệt cho đến khi quy định thay đổi năm 1857. Salon 1850 đến 1851 có Những người đập đá và Đám tang ở Ornans, được khen và bị lên án dữ dội ngang nhau, và Courbet trở thành người nổi tiếng, bị gọi là thiên tài, kẻ xã hội chủ nghĩa đáng sợ và kẻ man rợ. Năm 1855, khi Đám tang và Xưởng vẽ của họa sĩ bị loại khỏi Triển lãm Thế giới, ông dựng Gian Hiện thực của riêng mình ngay bên cạnh và trưng bốn mươi bức tranh. Cuối thập niên 1860 ông vẽ biển ở bờ biển phía bắc nước Pháp. Năm 1871 ông bị giam sáu tháng vì tham gia Công xã Paris, và từ năm 1873 sống lưu vong ở Thụy Sĩ cho đến khi mất ngày 31 tháng 12 năm 1877.

Phong cách và kỹ thuật

Courbet không thuộc trường phái Lãng mạn cũng chẳng thuộc Tân cổ điển. Tranh lịch sử, thể loại cao quý nhất trong mắt Salon, không làm ông hứng thú, vì ông tin rằng nghệ sĩ của thế kỷ này không thể tái hiện đúng một thế kỷ khác; nguồn duy nhất của nghệ thuật sống là trải nghiệm của chính người nghệ sĩ. Cùng Daumier và Millet, ông được gọi là họa sĩ Hiện thực, vẽ nông dân, giới trung lưu thôn quê và người nghèo lao động. Với ông, hiện thực không phải là đường nét hoàn hảo mà là cách đi màu tự nhiên, thô ráp, cho thấy sự quan sát trực tiếp và những điều không đều đặn của tự nhiên. Ông vẽ những nghi lễ bình thường trên khổ lớn vốn dành cho đề tài tôn giáo hay hoàng gia: Đám tang ở Ornans rộng khoảng 3 nhân 6,7 mét. Phong cảnh, tranh biển, cảnh săn, tranh khỏa thân và tĩnh vật về sau ít tính chính trị hơn, nhưng những bức biển của ông, từ Biển lặng đến Con thuyền buồm vật lộn giữa sóng dữ, vẫn cho thấy cả vẻ đẹp lẫn hiểm nguy của thiên nhiên.

Giai thoại

Courbet bắt gặp cảnh của bức Những người đập đá bên vệ đường gần Ornans: một ông già và một chàng trai đang làm công việc nặng nhọc gãy lưng. Ông kể với bạn bè rằng chẳng mấy khi gặp được một hình ảnh trọn vẹn đến thế của cái nghèo, và ông bảo hai người sáng hôm sau đến xưởng vẽ. Bức tranh bị phá hủy tháng 2 năm 1945 cùng 153 bức khác, khi chiếc xe chở chúng rời Dresden bị ném bom. Với Đám tang ở Ornans, ghi lại đám tang ông chú của ông, ông vẽ chính những người dân thị trấn đã có mặt hôm ấy; giới phê bình buộc tội ông cố tình theo đuổi cái xấu, còn ông tuyên bố bức tranh thực chất là đám tang của chủ nghĩa Lãng mạn. Trong Xưởng vẽ của họa sĩ, ảnh X-quang cho thấy người đàn ông dắt chó săn với bộ ria vểnh, được hiểu là Hoàng đế Napoleon III, được vẽ thêm về sau, đặt giữa những hình người tượng trưng cho đời sống tầm thường và sự bóc lột.

Di sản

Tinh thần độc lập của Courbet là tấm gương cho các họa sĩ Ấn tượng và về sau là Lập thể, và ông giữ một vị trí quan trọng trong hội họa Pháp thế kỷ mười chín như một nhà cách tân dám đưa ra những tuyên ngôn xã hội táo bạo. Delacroix ủng hộ nhiệt thành, Baudelaire và Champfleury coi Xưởng vẽ của họa sĩ là kiệt tác, họa sĩ Mỹ James McNeill Whistler ngưỡng mộ ông, và ông truyền cảm hứng cho Édouard Manet cùng các họa sĩ Ấn tượng. Bản tuyên ngôn Hiện thực năm 1855 nói rõ mục tiêu của ông: diễn tả phong tục, tư tưởng và diện mạo thời đại mình theo cách nhìn của riêng mình, và tạo ra nghệ thuật sống. Ông cố tình nuôi hình ảnh một người nông dân không học hành và thường bị báo chí vẽ biếm họa, nhưng sau vẻ ngạo nghễ ấy là một họa sĩ khăng khăng rằng những phận đời bình thường, nỗi đau và lao động đều xứng đáng với phẩm giá của một bức tranh lớn.

Có thể bạn chưa biết

Wikipedia

chủ nghĩa hiện thực · chủ nghĩa học viện · chủ nghĩa hiện thực

Họa sĩ liên quan

Claude Monet · Édouard Manet · Vincent van Gogh

Tranh của Gustave Courbet